Loading ...

Tiềm năng về khoáng sản

Ngày đăng:26-03-2014 | 09:00:15

Khoáng sản Bauxit

Đắk Nông có nhiều tài nguyên khoáng sản quý hiếm, trong đó phải kể đến là Bauxit với trữ lượng dự đoán khoảng 5,4 tỷ tấn, trữ lượng thăm dò là 

1,436 tỷ tấn tinh quặng, tương dương 3,425 tỷ tấn quặng nguyên khai, hàm lượng nhôm trên 40%. Theo quyết định

 167/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bauxite Đắk Nông được quy hoạch 13 điểm mỏ phân bố ở các huyện Đắk Glong, Đắk Song, Đắk R’lấp, Tuy Đức và thị xã Gia Nghĩa. Tính đến thời điểm hiện nay, đã có 9 nhà đầu tư trong và ngoài nước đến tỉnh Đắk Nông để khảo sát, tìm hiểu cơ hội đầu tư. Trong đó nhiều tập đoàn lớn như: Tập Đoàn than khoáng sản Việt Nam, Tập Đoàn BHP Biliion của Australia, Công ty Cổ phần nhôm Chalco của Trung Quốc, 

 Tập Đoàn Aicoa của Mỹ… Hiện tại, ngoài mỏ quặng 1-5 ở xã Đắk Ha (huyện Đắk Glong) đã được thăm dò cụ thể, với trữ lượng dự kiến khoảng 122,864 ngàn tấn tinh quặng, theo đánh giá, m

ỏ quặng này có hàm lượng tinh quặng cao, lại lộ thiên, thuận tiện cho việc khai thác, tỉnh cũng đã hoàn thành công tác thăm

 dò Bauxit tại địa bàn xã Quảng Thành (thị xã Gia Nghĩa) và xã Trường Xuân (huyện Đắk Song) với diện tích 117,5 Km2. Để phục vụ cho quá trình phát triển công nghiệp cũng như việc khai thác quặng Bauxit và luyện Alumin trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch cụm công nghiệp Nhân Cơ (huyện Đắk Rlấp giai đoạn 1 là 95 ha).

Ngoài khoáng sản Bauxit, Đắk Nông còn rất nhiều loại khoáng sản có giá trị kinh tế khác và có khả năng khai thác lâu dài phục vụ cho ngành công nghiệp như: Khối đá Ôpal; đất sét phục vụ cho công nghiệp sản xuất gạch ngói; nguồn nước khoáng có khả năng khai thác lên đến 20-30 năm; khí CO2; sét cao lanh làm gốm sứ cao cấp; Puzơlan được nghiền làm nguyên liệu cho xi măng đặc chủng dùng cho các công trình chống lún, chống thấm; đá Bazan bọt làm nguyên liệu sản xuất gạch ốp lát cách âm, cách nhiệt, sợi chịu nhiệt. Ngoài ra các nguồn khoáng sản quý hiếm như vàng, đá quý, ngọc bích, saphia trắng tại khu vực xã Trường Xuân, huyện Đắk Song, Volfram, thiếc, antimon trên địa bàn huyện Đắk Glong, Cư Jút.

Thông tin về một số khoáng sản khác:

- Kaolin 

a. Vị trí và quy mô: Kaolin phân bố trên một diện tích khá rộng lớn thuộc các xã Đắk Nia, thị xã Gia Nghĩa và các xã Đắk Ha, Quảng Sơn của huyện Đắk G’long. Diện tích khu vực mỏ: 39,3 km2.

b. Về cơ sở địa chất và khoáng sản:

* Vùng Đắk Hà: Diện tích điều tra, đánh giá triển vọng Kaolin là 19,2 km2, trữ lượng cấp (333+334a) là 3.829 nghìn tấn, gồm 4 thân quặng chính. Kaolin có màu trắng, trắng đục, trắng phớt xanh.

- Thành phần khoáng vật: Kaolinit 21÷31%, Mica (illit) 14÷27%, Thạch anh 43÷45%, Felspat 5%, Cholorit 5%, montmorilonit ít, khoáng vật khác có hydrobiotit. Khoáng vật tan dư gồm Thạch anh, Felspat, Mica; các khoáng vật điện từ có hại gồm Hematit, Limonit, Ilmenit.

- Tính chất vật lý: Độ trắng 57,8%; chỉ số dẻo 12,8%, độ chịu lửa: 1.583°C; thể trọng (g/cm3) ướt: 1,96÷2,00, thể trọng khô: 1,63÷1,92, trung bình 1,8; độ ẩm: 23,86÷26,15%; độ co khi sấy ở 110°C: 3,63% khi nung ở 1220°C: 11,74%.

- Độ thu hồi trong thân quặng tư 82%- 95%.

* Vùng Khiêm Đức 1: Diện tích điều tra đánh giá triển vọng Kaolin là 10,8 km2 trữ lượng cấp (333+334a) là 3.500 nghìn tấn, gồm 2 thân quặng chính. Kaolin có màu trắng, trắng phớt xanh, trắng xám, vàng nhạt.

- Thành phần khoáng vật: Kaolinit 28÷31%, Mica (illit) 23÷25%, Thạch anh 34%, Felspat 4%, Chlorit và Goethit ít, khoáng vật khác có hydrobiotit. Các khoáng vật tàn dư chủ yếu gồm: Thạch anh, Felspat,; các khoáng vật điện từ có hại gồm: Ilmenit và Hematit rất ít.

- Tính chất vật lý của Kaolin: Giới hạn chảy 36,2%; giới hạn dẻo 13,6%; chỉ số dẻo 22,6%; độ trắng 56,0%; độ chịu lửa 1.516°C.

- Độ thu hồi trong thu hồi là từ 85% - 88%.

* Vùng Khiêm Đức 2: Diện tích điều tra, đánh giá triển vọng Kaolin là 9,3 km2, trữ lượng cấp (333+334a) là 5.866 nghìn tấn, gồm 7 thân quặng chính. Kaolin có màu trắng, trắng đục, vàng nhạt.

- Thành phần khoáng vật: Kaolinit 22÷24%, Mica (illit) 17÷19%, Thạch anh 38÷40%, Felspat 6÷8%, Chlorit 4÷6%, Goethit 3÷5%, monmorilonit ít, khoáng vật khác có hydrobiotit.

- Tính chất vật lý: Giới hạn chảy 36,0%; giới hạn dẻo 11,9%; chỉ số dẻo 24,1%; độ trắng 44,1%; độ chịu lửa 1.470°C.

- Độ thu hồi từ 84% - 92%.

c. Hiện trạng sử dụng đất: Các khu vực Kaolin chủ yếu nằm trong diện tích đất của các công ty lâm nghiệp quản lý nhưng đã bị người dân xâm canh trồng cây công nghiệp và hoa màu.

d. Nhận xét: Các khu vực Kaolin có diện tích phân bố và trữ lượng lớn, chất lượng khá tốt, có thể sử dụng làm gốm sứ, gạch men, phụ gia xi măng…

e. Hướng kêu gọi đầu tư: Kêu gọi các doanh nghiệp có đủ năng lực đầu tư xin thăm dò, khai thác (Bộ TN&MT cấp giấy phép), xây dựng nhà máy chế biến Kaolin tinh tại Đắk Nông. Về lâu dài, cần kết hợp với việc phát triển các cơ sở sản xuất gốm sứ, gạch men tại địa phương.

Opal - canxeđoan

a. Vị trí và quy mô: 07 điểm đá Opal - canxeđoan, phân bố chủ yếu ở huyện Đắk Mil và Cư Jút.

b. Về cơ sở địa chất và khoáng sản: Có 03 điểm tại xã Đắk Lao, huyện Đắk Mil (diện tích trên 12ha) đã được Bộ TN&MT cấp giấy phép thăm dò cho Công ty Lâm nghiệp Đắk Mil, 04 khu vực còn lại chưa được điều tra, đánh giá triển vọng.

- Màu sắc: Có màu nâu vàng, xanh ngọc bích, hồng, có vân đẹp, hạt rất mịn, cấu tạo khối, rắn chắc, kích thước không đều, nhiều khối đá người dân địa phương khai thác có kích thước lên đến 12 m3.

- Thành phần khoáng vật: Thành phần chủ yếu là hạt Silic, có kích thước rất nhỏ; Silic dạng ẩn tinh, trong suốt không màu, giao thoa xám tối. Opal-canxeđoan không màu, dạng tỏa tia, giao thoa xám tối.

- Tổng trữ lượng cấp 122 dự tính tại 03 khu vực đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy phép thăm dò là 3.707 tấn. Ngoài ra, các khu vực khác chưa được điều tra đánh giá trữ lượng nhưng có chất lượng và tiềm năng như: điểm Opal-canxeđoan Đắk Gằn, huyện Đắk Mil; điểm Opal-canxeđoan ở Cư Knia, huyện CưJút.

c. Hiện trạng sử dụng đất: Các khu vực Opal - canxeđoan ở Đắk Mil chủ yếu nằm trong diện tích đất của Công ty lâm nghiệp quản lý. Riêng khu vực Đắk Gằn, huyện Đắk Mil và điểm Cư Knia, huyện CưJút là đất nông nghiệp đang được người dân trồng cây công nghiệp và hoa màu.

d. Nhận xét: Các khu vực Opal - canxeđoan chủ yếu do dân phát hiện và khai thác trái phép trong thời gian vừa qua. Theo kết quả thăm dò ban đầu tại 03 khu ở xã Đắk Lao của Công ty Lâm nghiệp Đắk Mil, thì đá Opal - canxeđoan ở đây phân bố không tập trung, không thành mỏ lớn nên không thể đầu tư khai thác quy mô công nghiệp được, chỉ có thể đầu tư khai thác quy mô nhỏ, kết hợp với thu mua lượng đá trôi nổi trong dân (dân tự khai thác trong vườn của mình).

e. Hướng kêu gọi đầu tư: Tỉnh ủy, UBND tỉnh sẽ làm việc với Bộ TN&MT xin chủ trương cho phép tỉnh triển khai công tác điều tra, đánh giá triển vọng đá Opal - canxeđoan trên địa bàn huyện Đắk Mil và Cư Jút, dưới hình thức: Tỉnh mời các Liên đoàn địa chất thực hiện dự án điều tra, đánh giá khoáng sản, kinh phí lấy từ nguồn đóng góp của các nhà đầu tư. Sau khi kết quả điều tra, đánh giá khoáng sản, sẽ trình Hội đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản. Nếu có quy mô nhỏ, không đưa vào quy hoạch thăm dò, khai thác của cả nước thì đề nghị Bộ TN&MT và Bộ Công thương xem xét bàn giao cho UBND tỉnh cấp giấy phép thăm dò, khai thác quy mô nhỏ. Ưu tiên cấp giấy phép cho các nhà đầu tư đã đóng góp kinh phí thực hiện dự án. Việc cấp giấy phép khai thác phải gắn liền với đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến đá mỹ nghệ tại địa phương.

Đá Granite 

a. Vị trí và quy mô: 04 khu vực đá Granite có thể làm đá ốplát, cụ thể như: Điểm đá Granite Đắk N’tao, huyện Đắk Song (diện tích phân bố khoảng 3 ha); điểm đá Granite Đắk Mol, huyện Đắk Song (diện tích phân bố khoảng 3 ha); điểm đá Granite Đắk Ru, huyện Đắk R’Lấp (diện tích phân bố khoảng 2 ha) và điểm đá Granite Quảng Phú, huyện Krông Nô (diện tích phân bố khoảng 10 ha).

b. Về cơ sở địa chất và khoáng sản: Hiện nay, các điểm đá Granite mới chỉ dừng lại ở việc phát hiện, chưa được điều tra, đánh giá triển vọng.

Qua quan sát, đá Grannít ở các khu vực này mặc dù có diện tích phân bố nhỏ, nhưng có độ nguyên khối khá lớn; đá có hạt trung đến lớn, màu xám trắng đốm đen và độ bóng cao. Thành phần gồm Điorit, Gabrodiorit Biotit Hornblend, Gabrodiorit Hornblend, Tonalit Biotit- Hornblend. Thành phần khoáng vật: Plagioclas = 38-64 (%), Felspat = 7-24 (%), Thạch anh = 17-31 (%), Biotit = 7-13(%), Hornblend = 3-8 (%), Pyroxen = 0-7 (%) khoáng vật phụ Apatit, Zircon, Sphen.

c. Hiện trạng sử dụng đất: Các khu vực đá Grannít chủ yếu nằm trong diện tích rừng nghèo, rừng sản xuất do các công ty lâm nghiệp quản lý.

d. Nhận xét: Do có diện tích phân bố nhỏ, nên việc kêu gọi các đối tác đầu tư xin Bộ TN&MT cấp giấy thăm dò, khai thác quy mô công nghiệp sẽ không khả thi, chỉ phù hợp với hình thức khai thác quy mô nhỏ.

e. Hướng kêu gọi đầu tư: Phương án triển khai kêu gọi đầu tư sẽ thực hiện tương tự như đối với đá Opal-canxeđoan nêu trên.

- Puzơ lan (đá bazan bọt):

a. Vị trí và quy mô: Phân bố tập trung ở xã Quảng Phú và Buôn Choah, huyện Krông Nô, các điểm mỏ đều nằm gần các trục đường tỉnh lộ nên rất thuận lợi về giao thông đường bộ. Tổng trữ lượng tài nguyên dự báo trên 80 triệu tấn.

b. Về cơ sở địa chất và khoáng sản: Các khu vực này mới được khảo sát sơ bộ, chưa được điều tra, đánh giá trữ lượng cự thể.

- Puzơlan phân bố trên địa hình dương, lộ ngay trên mặt. Đá có màu xám nâu, xám xanh và xám đen; kích thước các khối tảng thường gặp từ 10- 15 cm; tỷ lệ độ rỗng 30-50%, có nơi tới 70%; chiều dày phân bố từ 5- 20 cm.

- Theo kết quả phân tích mẫu tại Quảng Phú, có kết quả: SiO2= 45-46%; TiO2 = 1,8-1,9%; AL2O3 = 13-14%; TFe2O3 = 11-12%; độ hút vôi (CaO/g) từ 40-70mg.

- Trữ lượng tài nguyên dự báo tại 04 khu vực:

+ Buôn Choah: Diện tích khoảng 15 km2; trữ lượng khoảng 36 triệu tấn.

+ Quảng Phú 1: Diện tích khoảng 1,5 km2; trữ lượng khoảng 23 triệu tấn.

+ Quảng Phú 2: Diện tích khoảng 0,5 km2; trữ lượng khoảng 1,6 triệu tấn.

+ Đèo 52: Diện tích khoảng 1 km2; trữ lượng khoảng 22 triệu tấn.

c. Hiện trạng sử dụng đất: Các khu vực Puzơlan chủ yếu là đất trống, đồi trọc. Khu vực Quảng Phú nằm trong diện tích rừng nghèo, rừng sản xuất do các công ty lâm nghiệp quản lý; khu vực Buôn Choah là đất nông nghiệp do địa phương quản lý.

d. Nhận xét: Các khu vực Puzơlan có diện tích phân bố và trữ lượng dự báo khá lớn; chất lượng tốt, có thể sử dụng làm phụ gia xi măng, sản xuất gạch không nung và cung cấp cho công nghệ bê tông đầm lăn tại các công trình thuỷ điện, hay là nguyên liệu chco xi măng đặc chủng. Hiện tại, ngoài khu vực Đèo 52, xã Quảng Phú (50 ha) đã được Bộ Xây dựng thỏa thuận và bàn giao cho địa phương quản lý, cấp giấy phép khai thác quy mô nhỏ (UBND tỉnh đã cấp 02 giấy phép cho 02 doanh nghiệp, nhưng chưa khai thác), còn lại 03 khu vực đang nằm trong kế hoạch điều tra đánh giá triển vọng của Bộ TN&MT giai đoạn 2009 - 2010.

e. Hướng kêu gọi đầu tư: Kêu gọi các nhà đầu tư xin Bộ TN&MT cấp giấy phép thăm dò, khai thác. Ưu tiên cấp giấy phép cho các nhà đầu tư gắn với xây dựng nhà máy nghiền Puzơlan để sản xuất xi măng tại địa phương.

- Nước khoáng giàu khí CO2:

a. Về cơ sở địa chất và khoáng sản: Mỏ nước khoáng Đắk Mol, xã Đắk Mol, huyện Đắk Song được Đoàn địa chất 704 phát hiện năm 1982, ở độ sâu 185 m. Áp lực nước phun cao hơn mặt đất là 18 m, lưu lượng nước tự chảy là 25 lít/s, nhiệt độ nước là 32,50°C, lưu lượng nước tự chảy biển đổi từ 6,6- 6,68 lít/s, trung bình 6,64 lít/s; nhiệt độ nước biển đổi từ 32- 33,50°C, trung bình 32,7°C.

+ Tính chất vật lý:

- Nhiệt độ nước: Biến đổi từ 32- 33,50oC, trung bình 32,57°C (thuộc loại nước khoáng ấm có ga).

- Nước trong, không màu.

- Nước có mùi cay của khí CO2.

- Nước có vị the của khí CO2 hoà tan.

- Độ dẫn xuất của nước biến đổi trong khoảng 2330 - 5000.

- Nước không mang tính phóng xạ, trong thành phần không có Radon (Rn).

- Độ PH biến đổi từ 6,14 – 9,4, trung bình 7,7.

Thành phần hoá học: Nước chủ yếu thuộc loại Bicacbonat – natri – manhê.

Trữ lượng: Theo đánh giá của Hội Đồng xét duyệt trữ lượng khoáng sản tại công văn số 369/HĐTL, ngày 16/11/1996 thì mỏ nước khoáng có lưu lượng tự chảy là 6.51 l/s hay 562 m3/ngày tương đương cấp C1 và có thể thu hồi khí CO2 là 6 tấn/ ngày.

b. Hiện trạng sử dụng đất: Hiện tại, công ty cổ phần khoáng sản Đắk Lắk được thuê khoảng 2 ha tại mỏ nước khoáng để xây dựng văn phòng và nhà máy; khu vực sát với biên giới phía Nam của mỏ là thung lũng rộng lớn hàng trăm ha, đang được người dân trồng lúa nước và làm ao thả cá.

c. Nhận xét: Mỏ nước khoáng xã Đắk Mol, huyện Đắk Song được Bộ Công nghiệp (cũ) cấp giấy phép khai thác cho công ty cổ phần khoáng sản Đắk Lắk từ năm 1997, thời hạn 10 năm với công suất 6 tấn/ngày và hiện nay đã được Bộ TN&MT gia hạn giấy phép khai thác với thời hạn khai thác là 5 năm. Trong thời gian qua, công ty cổ phần khoáng sản Đắk Lắk khai thác nước khoáng nhưng chỉ thu hồi khí đồng hành CO2, còn phần nước khoáng vẫn để chảy vào các hố lắng rồi cho chảy ra ngoài tự nhiên nên gây lãng phí nguồn tài nguyên.

d. Hướng kêu gọi đầu tư: Để tránh lãng phí tài nguyên, tận dụng nguồn nước khoáng sẵn có, cần kêu gọi các nhà đầu tư có đủ năng lực và kinh nghiệm để nghiên cứu sử dụng nước khoáng vào việc ngâm tắm chữa bệnh kết hợp với phát triển du lịch; cần xem xét việc gắn điểm du lịch này với quy hoạch các điểm du lịch tại núi lửa Thuận An và khu vực núi Nam Nung.

- Vàng

a. Vị trí và quy mô: Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện được 02 điểm quặng vàng gốc có triển vọng thuộc địa bàn huyện Đắk G’Long, gồm điểm vàng Quảng Sơn xã Quảng Sơn và điểm vàng XLiêng Đông, xã Đắk Lao (người dân gọi là khu vực Hoa quả sơn).

b. Về cơ sở địa chất và khoáng sản: Hiện tại, các điểm quặng này chưa được điều tra để đánh giá triển vọng, 02 điểm quặng này được dân phát hiện và khai thác trái phép trong năm 2005, UBND tỉnh đã kịp thời chỉ đạo triển khai biện pháp ngăn chặn, giải tỏa nên đã không để xảy ra điểm nóng về khai thác trái phép.

+ Điểm quặng vàng Quảng sơn mới được dân phát hiện, chưa có công trình khảo sát, điều tra nên chưa đánh giá được quy mô và triển vọng.

+ Điểm quặng vàng XLiêng Đông phân bố trên diện tích khoảng 10 km2, đã được Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ tiến hành khảo sát sơ bộ và phát hiện được 04 thân quặng.

Thân quặng 1: Kéo dài theo phương Đông bắc - Tây nam, với chiều dài khoảng 150m, dày 1,5m; hàm lượng vàng từ 0,87 - 1,04 g/T, bạc từ 7,32 – 16,9 g/T. Tài nguyên dự báo cấp P1 = 27 Kg.

Thân quặng 2: Quặng là một tập hợp đới vi mạch thạch anh hoá chứa sulphur, trong đới các ổ nhỏ sulfur đã bị limonit hoá mạnh màu nâu đen khó xác định được khoáng vật ban đầu. Hàm lượng vàng 0,15 g/T, bạc 5g/T. Tài nguyên dự báo cấp P1 = 1,97 kg.

Thân quặng 3: Các khoáng vật quặng tồn tại trong mạch dạng xâm tán, ổ nhỏ, chủ yếu là Pyrit, Chalcopyrit và ít Henmatit, có chổ thấy hạt vàng tự sinh khoảng 0,1 mm. Khoáng vật mạch chủ yếu là Thạch anh và đá sừng Thạch anh hóa rất cứng chắc, vỡ sắc cạnh. Hàm lượng vàng từ 0,1 – 55,14 g/ T; bạc từ: 2- 236,45 g/ T. Tài nguyên dự báo cấp P2 = 2.959 kg.

Thân quặng 4: Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là Pyrit tồn tại ở dạng tinh thể khá tự hình, kích thước đều từ 0,3 – 0,6 cm. Tạo thành ổ, mạch đặc sít dày khoảng 0,1 m xuyên cắt trong đới. Khoáng vật mạch chủ yếu là Ferspat đã bị phong hoá mạnh thành Cao lanh lẫn với các hạt Thạch anh dạng cát hạt trung đến thô. Hàm lượng vàng từ 2,05 g/T; bạc 2 g/T, tài nguyên dự báo cấp P2 = 19,22 kg.

c. Hiện trạng sử dụng đất: Khu vực vàng Quảng Sơn nằm trong diện tích rừng do các Công ty lâm nghiệp quản lý; khu vực Hoa quả sơn có một phần diện tích đất rừng do Công ty lâm nghiệp Đắk R’Măng quản lý, phần diện tích còn lại là đất rừng nằm trong vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng.

d. Nhận xét: Các khu vực quặng vàng gốc có diện tích phân bố khá rộng, nên việc điều tra đánh giá triển vọng là rất cần thiết, làm cơ sở cho việc kêu gọi các nhà đầu tư thăm dò, khai thác.

e. Hướng kêu gọi đầu tư: Tỉnh uỷ và UBND tỉnh sẽ làm việc với Bộ TN&MT đề nghị sớm bố trí kinh phí triển khai dự án điều tra đánh giá tiềm năng khoáng sản tại khu vực này. Sau khi có kết quả điều tra, đánh giá khoáng sản, sẽ kêu gọi các nhà đầu tư xin Bộ TN&MT cấp giấy phép thăm dò, khai thác. Ưu tiên cấp giấy phép cho các nhà đầu tư gắn với xây dựng nhà máy chế biến sâu tại địa phương.

- Wonfram và Thiếc

a. Vị trí và quy mô: 01 khu vực quặng Wonfram và Thiếc gốc rất có triển vọng tại xã Đắk R’Măng, huyện Đắk GLong.

b. Về cơ sở địa chất và khoáng sản: Điểm quặng có diện tích phân bố khoảng 6 km2, trong đó có 110 ha đã được Bộ TN&MT cấp giấy phép thăm dò Wonfram cho Công ty 7/5 và Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, phần diện tích còn lại chưa được điều tra đánh giá triển vọng và chưa cấp giấy phép hoạt động.

Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ tiến hành khảo sát sơ bộ và phát hiện được 04 thân quặng phân bố dạng tuyến gần song song nhau, cắt chéo sườn đỉnh núi Cagne theo phương án kinh tuyến. Quặng tồn tại ở 2 kiểu khoáng hoá khác nhau: Kiểu mạch Thạch anh chứa Wonfram - Casiterit - Sulphur, và kiểu đới Greisen chứa mạch con, mạch Thạch anh chứa Casiterit – Wonfram biến đổi vây quanh Greisen hóa, Silic hóa, Sericit hóa

Thân quặng 1: Hàm lượng WO3 thay đổi từ 0,12 - 3,72%, trung bình 1,35%, tài nguyên dự báo cấp P1 = 1.815 tấn.

Thân quặng 2: Hàm lượng WO3 thay đổi từ 0,55 - 1,12%, trung bình 0,84%, tài nguyên dự báo cấp P1 = 642 tấn.

Thân quặng 3: Hàm lượng WO3 thay đổi từ 0,123 - 0,327%, trung bình 0,19%, tài nguyên dự báo cấp P1 = 427,5 tấn.

Thân quặng 4: Hàm lượng WO3 thay đổi từ 0,078 - 0,723%, trung bình 0,31%, tài nguyên dự báo cấp P1 = 418,5 tấn.

Cả 04 thân quặng trên đều nằm trong khu vực 110 ha đã được Bộ TN&MT cấp giấy phép thăm dò, diện tích còn lại (khoảng 5 km2) chưa có công trình điều tra để đánh giá triển vọng.

c. Hiện trạng sử dụng đất: Khu vực quặng nằm trong diện tích đất rừng sản xuất do công ty lâm nghiệp Đắk R’Măng quản lý.

d. Nhận xét: Khu vực quặng Wonfram và Thiếc gốc có diện tích phân bố khá rộng, nên việc điều tra đánh giá triển vọng là rất cần thiết, làm cơ sở cho việc kêu gọi đầu tư, thăm dò, khai thác.

e. Hướng kêu gọi đầu tư: Tỉnh uỷ và UBND tỉnh sẽ là việc với Bộ TN&MT đề nghị bố trí kinh phí sớm triển khai dự án điều tra đánh giá tiềm năng khoáng sản tại khu vực này (trừ diện tích 110 ha đã cấp giấy phép thăm dò). Sau khi có kết quả điều tra, đánh giá khoáng sản, sẽ kêu gọi các nhà đầu tư xin Bộ TN&MT cấp giấy phép thăm dò, khai thác. Ưu tiên cấp giấy phép cho các nhà đầu tư gắn với xây dựng nhà máy chế biến tại địa phương.

- Saphia

a. Vị trí và quy mô: Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Đắk Nông có 06 khu vực Saphia đã được Chính phủ bàn giao cho địa phương quản lý và cấp giấy phép tận thu khoáng sản; bao gồm các khu vực: Đắk Tôn 1 (25 ha); Đắk Tôn 2 (17 ha); Đắk Tôn 3 (9 ha); Đắk Rwe (32 ha); Đắk Rmoigne (30 ha); Đắk Oue (19 ha).

b. Về cơ sở địa chất và khoáng sản: 06 khu vực Saphia này đã được công ty đá quý và vàng Tây Nguyên thuộc Tổng Công ty đá quý và vàng Việt Nam khảo sát, thăm dò đánh giá trữ lượng. Theo Báo cáo kết quả khảo sát, đánh giá triển vọng Saphia các khu vực như sau:

Đắk Tôn 1: Diện tích khảo sát, thăm dò 3km2, trữ lượng 67,96kg.

Đắk Tôn 2: Diện tích khảo sát 11,2km2, chiều dài trung bình 0,47m, hàm lượng trung bình 2,46 g/m3, trữ lượng khoảng 272,56kg.

Đắk Tôn 3: Diện tích khảo sát 8km2, chiều dài trung bình 0,67m, hàm lượng trung bình 4,49 g/m3, trữ lượng khoảng 240,47kg.

Đắk R’we: Diện tích khảo sát 9,4km2, chiều dài trung bình 0,34 m, hàm lượng trung bình 1,55 g/m3, trữ lượng khoảng 46,67kg.

Đắk Rmoigne: Diện tích khảo sát 13,7km2, chiều dài trung bình 0,35m, hàm lượng trung bình 0,5 g/m3, trữ lượng khoảng 30,62kg.

Đắk Oue: Diện tích khảo sát 64 km2, chiều dài trung bình 0,5m, hàm lượng trung bình 3,35g/m3, trữ lượng khoảng 1.071,59kg.

c. Hiện trạng sử dụng đất: Các khu vực Saphia đều nằm trong diện tích đất rừng sản xuất do các công ty lâm nghiệp quản lý, nhưng phần lớn diện tích đã bị người dân xâm canh trồng cây công nghiệp và hoa màu.

d. Nhận xét: 06 khu vực khai thác tận thu Saphia đều thuộc thẩm quyền cấp giấy phép khai thác tận thu của UBND tỉnh.

e. Hướng kêu gọi đầu tư: Cấp giấy phép khai thác tận thu cho các doanh nghiệp xây dựng được phương án bảo vệ môi trường và vấn đề xử lý nước tuyển rửa không làm ảnh hưởng đến nguồn nước mặt ở hạ lưu (trung tâm thị xã Gia Nghĩa).

2.9. Sét gạch ngói

a. Vị trí và quy mô: Trên địa bàn tỉnh, Sét gạch ngói có trữ lượng khá lớn, khoảng 25 triệu m3, nhưng lại phân bố không đều, chỉ tập trung chủ yếu ở 2 huyện Cư Jút và Krông Nô.

b. Về cơ sở địa chất và khoáng sản: Tất cả các khu vực Sét gạch ngói trên địa bàn tỉnh chưa được thăm dò để đánh giá trữ lượng và chất lượng. Hiện tại có 01 khu vực với diện tích 20 ha ở xã Trúc Sơn, Cư Jút đang triển khai công tác thăm dò, còn lại các khu vực khác chỉ mới dừng lại ở việc khảo sát, đánh giá sơ bộ. Tài nguyên Sét gạch ngói dự báo trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 25 triệu m3, nhưng chỉ có một số khu vực nằm gần các trục đường giao thông có điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư thăm dò, khai thác và xây dựng nhà máy Tuy Nel. Dựa vào đặc điểm của các khu vực Sét gạch ngói và điều kiện về cơ sở hạ tầng, hiện tại có 05 khu vực có điều kiện thuận lợi để kêu gọi đầu tư.

Khu vực Sét xã Trúc Sơn, huyện Cư Jút: Khu vực này có diện tích khoảng 50 ha, nằm gần Quốc lộ 14 và trung tâm huyện Cư Jút. Hiện tại đã có 01 nhà máy gạch Tuy Nel của Công ty VLXD Đắk Nông hoạt động từ trước (diện tích vùng nguyên liệu khoảng 20 ha) và 01 đơn vị khác đang tiến hành thăm dò trên diện tích 20 ha, diện tích vùng nguyên liệu còn lại khoảng 15 ha. Sét ở đây có chất lượng tốt, đủ điều kiện để sản xuất gạch, ngói.

Khu vực Sét gạch ngói B.SruKe, xã Quảng Phú, huyện Krông Nô: Nằm gần Tỉnh lộ 4 và cách thị xã Gia Nghĩa khoảng 60 km, diện tích khoảng 60 ha. Sét ở đây có chất lượng tốt, đủ điều kiện để sản xuất gạch, ngói.

Khu vực Sét Quảng Sơn, huyện Đắk G’Long: Nằm gần Tỉnh lộ 4 và cách thị xã Gia Nghĩa khoảng 40km, diện tích khoảng 15ha. Khu vực này cần phải đầu tư thăm dò để đánh giá trữ lượng và chất lượng trước khi xây dựng nhà máy.

Khu vực Sét gạch ngói Đắk Ha 1, xã Đắk Ha, huyện Đắk G’Long: Nằm gần Tỉnh lộ 4 và cách thị xã Gia Nghĩa khoảng 28km, diện tích khoảng 30ha. Khu vực này cần phải đầu tư thăm dò để đánh giá trữ lượng và chất lượng trước khi xây dựng nhà máy.

Khu vực Sét gạch ngói Đắk Ha 2, xã Đắk Ha, huyện Đắk G’Long: Nằm cách Quốc lộ 28 khoảng 7 km và cách thị xã Gia Nghĩa khoảng 17 km, diện tích khoảng 40 ha. Khu vực này cần phải đầu tư thăm dò để đánh giá trữ lượng và chất lượng trước khi xây dựng nhà máy.

c. Hiện trạng sử dụng đất: Các khu vực Sét gạch ngói chủ yếu là đất nông nghiệp, đang được người dân trồng lúa nước, cây công nghiệp và hoa màu.

d. Nhận xét: Việc cấp giấy phép thăm dò, khai thác sét gạch ngói đều thuộc thẩm quyền cấp giấy phép của UBND tỉnh, nên rất thuận lợi cho việc kêu gọi đầu tư.

e. Hướng kêu gọi đầu tư: Tỉnh uỷ, UBND tỉnh xem xét có chính sách riêng trong việc đền bù đất đai tại các khu vực mỏ để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình triển khai dự án.

(Nguồn:)
Viết phản hồi
Mã xác nhận:
Thông tin doanh nghiệp