CƠ HỘI ĐẦU TƯ

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012

  • Ngày đăng16/06/2021
  • Lượt xem639

 

              I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

            1. Mục tiêu tổng quát

Bảo đảm ổn định kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua phát triển công nghiệp có thế mạnh của tỉnh như: alumin và công nghiệp phụ trợ. Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý để đảm bảo phát triển bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của từng ngành, từng sản phẩm; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; phát triển đồng bộ sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa - xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội…; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

             2. Các chỉ tiêu chính của kế hoạch năm 2012

             a) Các chỉ tiêu kinh tế

              - Tăng trưởng kinh tế đạt 12,20%; trong đó: Công nghiệp - xây dựng tăng 24,79%; Dịch vụ tăng 10,78%; Nông - lâm nghiệp tăng 4,94%. Thu nhập bình quân đầu người (theo giá hiện hành) đạt trên 21 triệu đồng.

            - Cơ cấu kinh tế theo GDP của các ngành (giá hiện hành) chuyển dịch như sau: công nghiệp - xây dựng 31,17% (năm 2010: 26,66%); nông, lâm nghiệp 44,98% (năm 2010: 50,21%); dịch vụ 23,85% (năm 2010: 23,13%).

            - Sản lượng lương thực đạt trên 341.905 tấn, nâng giá trị sử dụng đất nông nghiệp lên bình quân 40 - 45 triệu đồng/hecta (năm 2010: 39 triệu đồng/hecta).

            - Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 430 triệu đô la Mỹ, tăng 16,2% so năm 2011; tổng kim ngạch nhập khẩu 22 triệu đô la Mỹ;

            - Tổng mức bán lẻ hàng hoá trên địa bàn tỉnh đạt 8.000 tỷ đồng, tăng 23% 

            - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 10.566 tỷ đồng, tăng 35,8%.

            - Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 1.225 tỷ đồng (tăng 16,9%); tổng chi ngân sách địa phương 3.474 tỷ đồng;

            - Phát triển cơ sở hạ tầng: Tỷ lệ nhựa hoá đường giao thông: tỉnh lộ 90%, huyện lộ 70%, nhựa hóa 1-2 km đường bon/buôn 62%; tỷ lệ đáp ứng nguồn nước tưới cho diện tích có nhu cầu 52%; tỷ lệ hộ sử dụng điện 92%; tỷ lệ bon, buôn có điện lưới quốc gia 99%.

             b) Các chỉ tiêu văn hoá - xã hội

            - Tỷ lệ trường ở các cấp học được công nhận đạt chuẩn quốc gia: 20,26%; tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học mẫu giáo 95%.

            - Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,52%; mức giảm tỷ suất sinh 1%o; số giường bệnh/vạn dân 17,58 giường; 5,20 bác sỹ/vạn dân; tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ 60%; tỷ lệ đạt chuẩn quốc gia về y tế xã 40%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống dưới 24,2%; tỷ lệ tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đạt trên 90%.

            - Tỷ lệ hộ nghèo giảm 5% trên tổng số hộ toàn tỉnh; trong đó đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ giảm từ 5 - 6% so với năm 2011.

            - Giải quyết việc làm 17.250 lao động; đào tạo nghề 10.000 người

            - Tỷ lệ phủ sóng truyền hình thôn, buôn, bon 100%.

            - Tỷ lệ chuẩn văn hoá: gia đình văn hoá 74%; thôn, bon, buôn, tổ dân phố 58%; cơ quan, đơn vị văn hoá 81%; xã, phường, thị trấn 13%.

            - Số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt trên 78%.

            c. Chỉ tiêu quốc phòng, an ninh

            Tiếp tục giữ vững ổn định an ninh chính trị, không để xảy ra bạo loạn và vượt biên trái phép, tăng cường công tác đối ngoại với nước bạn Campuchia, hợp tác cùng phát triển, giữ vững chủ quyền an ninh biên giới. Tiếp tục kiện toàn củng cố về chính trị tư tưởng cho tổ chức lực lượng vũ trang.

            II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2012

            1. Tiếp tục thực hiện những giải pháp, biện pháp kiềm chế lạm phát bằng hoặc thấp hơn mức bình quân chung của cả nước, tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch đề ra, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững. Bám sát Nghị quyết tại Đại hội Đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ X, giai đoạn 2010 - 2015 để làm cơ sở triển khai thực hiện.

            2. Triển khai có hiệu quả 02 nhiệm vụ "tập trung" và 03 "đột phá" mà Tỉnh ủy đã đề ra. Trong thực hiện cần cân đối hài hòa giữa bố trí nhân lực và nguồn vốn để thực hiện, đảm bảo hoàn thành, đạt kết quả cao.

            3. Tập trung triển khai xây dựng nông thôn mới, phát triển nền nông nghiệp bền vững, toàn diện, có hệ thống trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền kinh tế, song song với việc thực hiện nông nghiệp công nghệ cao để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Gắn công nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu. Trong khai thác rừng, phải gắn với việc xoá đói giảm nghèo, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống của các dân tộc. Thực hiện lộ trình đến 2015 cơ bản đóng cửa rừng một số nơi.

            4. Trong năm 2012 tập trung phát triển công nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh; lựa chọn một số sản phẩm có lợi thế so sánh để kêu gọi phát triển công nghiệp hỗ trợ. Phát triển vật liệu xây dựng với các nhà máy sản xuất gạch Tuy nen, gạch Block, vật liệu không nung…phát triển ngành công nghiệp có lợi thế như chế biến cà phê, cao su, điều, gỗ tinh chế... Nhằm nâng tỷ trọng công nghiệp trong GDP đi đôi với nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất công nghiệp bảo đảm có đủ năng lực cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thị trường. Đảm bảo tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu quả kinh tế, không chủ trương xuất khẩu thô tài nguyên, nhất là khoáng sản.

            4. Ưu tiên phát triển và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ nhằm hỗ trợ đắc lực cho thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư. Tiếp tục khuyến khích nâng cao các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ bưu điện, thông tin liên lạc, vận tải hàng hoá, hành khách, trong đó chú ý hơn các loại hình dịch vụ thông tin tới nông thôn, vùng xa xôi hẻo lánh, phát triển các dịch vụ thông tin khoa học- kỹ thuật nông lâm nghiệp.

            5. Thực hiện chính sách tài chính tích cực, lành mạnh, công bằng, hiệu quả và thông thoáng trong việc khai thác các nguồn lực cũng như phân phối nhằm khuyến khích tối đa mọi thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh. Xây dựng một ngân sách tích cực và an toàn; chủ động xây dựng nguồn thu để tăng khả năng chi, xem việc mở rộng đối tượng thu là biện pháp chủ yếu để tăng thu; thu đúng, thu đủ, không lạm thu để nuôi dưỡng nguồn thu, nuôi dưỡng sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính để chấn chỉnh và quản lý chặt chẽ việc chi tiêu, nhất là ở khu vực hành chính sự nghiệp.

            Tập trung tháo gỡ khó khăn và đẩy nhanh tiến độ thi công một số công trình, dự án trọng điểm, có tính đột phá như: Cụm công trình thủy lợi Gia Nghĩa, trục đường Bắc Nam giai đoạn II, Công viên Hồ Thiên Nga, dự án BOT Quốc lộ 14, các đường giao thông liên vùng,... Đầu tư phát triển công nghiệp phải gắn chặt chẽ với sản xuất và tiêu thụ, giữa nhà máy chế biến với vùng nguyên liệu, giữa nhà máy với người nông dân; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn; phát triển công nghiệp chế biến nông sản.

            6. Đổi mới công tác thu hút vốn đầu tư của các tổ chức quốc tế, của Chính phủ và phi Chính phủ để xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư mạnh vào phát triển thủy điện, khai thác bô xít, luyện alumin, xây dựng các điểm du lịch. Thực hiện tái cơ cấu đầu tư công theo hướng giảm dần đầu tư từ ngân sách nhà nước, tăng các nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và nhân dân bằng nhiều phương pháp linh hoạt và phù hợp với điều kiện.

            7. Xây dựng kế hoạch triển khai quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, bổ sung, thực hiện các quy hoạch ngành và quy hoạch sản phẩm theo hướng phát huy các tiềm năng lợi thế của tỉnh, nhất là về đất đai, khí hậu, tài nguyên rừng, đặc biệt là tài nguyên lớn về bô xít gắn với phát triển ngành công nghiệp nhôm của cả nước, thuỷ điện và phát triển du lịch... nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và hiệu quả, phát triển ổn định và bền vững. Hoàn thành công tác quy hoạch chung xây dựng mở rộng thị xã Gia Nghĩa do nhà thầu tư vấn JiNa Hàn Quốc thực hiện.

            8. Triển khai mạnh các chính sách bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Chú trọng kiểm tra, giám sát để các chính sách ban hành áp dụng đúng đối tượng thụ hưởng. Nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình giảm nghèo; thực hiện nhiều biện pháp, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất để thoát nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân. 

            9. Tăng đầu tư nhà nước và huy động nguồn lực của xã hội để phát triển nhanh nguồn nhân lực có chất lượng, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong quản lý nhà nước và công nhân kỹ thuật. Hạn chế tình trạng thiếu lao động cục bộ ở một số ngành, nghề, lĩnh vực.

            Chú trọng công tác y tế dự phòng, nâng cao khả năng phòng chống các loại dịch bệnh; triển khai chính sách xã hội hóa phù hợp để phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Áp dụng biện pháp hữu hiệu thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình, giảm tỷ lệ sinh. Triển khai các biện pháp chống suy dinh dưỡng cho trẻ em, tập trung vào các vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xã, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

         10. Tiếp tục chỉ đạo, rà soát để hoàn chỉnh thủ tục hành chính, bảo đảm minh bạch, công khai, rõ ràng, dễ hiểu, giảm thủ tục, gọn đầu mối nhưng tránh sơ hở để lợi dụng; xác định rõ ý thức, trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức trong việc thực hiện các thủ tục hành chính và nhiệm vụ được giao.

           11. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm tham nhũng, các hành vi vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm. Đề cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Coi trọng việc tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân để tự giác thực hiện pháp luật. Có biện pháp, cơ chế, chính sách hữu hiệu và thể hiện rõ trong thực tế việc bảo vệ, khuyến khích, khen thưởng người mạnh dạn đấu tranh chống lãng phí, tham nhũng, tố giác tội phạm.

12. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành về xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, coi trọng các địa bàn trọng điểm, địa bàn xung yếu để chủ động xử lý hiệu quả các tình huống phức tạp, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

            Đánh giá đúng những ưu điểm, thành tựu để phát huy, thấy rõ những khuyết điểm, yếu kém để khắc phục; ra sức phấn đấu đạt được những kết quả cao hơn trong năm 2012 là mong muốn và là trách nhiệm của tất cả chúng ta. Thực tiễn đang thôi thúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện hơn, phát huy cao độ sức mạnh trí tuệ, tinh thần và vật chất của đồng bào ta, quyết tâm vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội để phát triển nhanh và bền vững. Cần làm tốt công tác chính trị tư tưởng, thông tin tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội, huy động sự nỗ lực của toàn dân vào việc thực hiện nhiệm vụ phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người dân.

            Các ngành, địa phương và các đơn vị phải triển khai thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ kế hoạch năm 2012 ngay sau khi được HĐND thông qua; tập trung vào các khâu đột phá, lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm trong từng thời gian; đồng thời làm tốt công tác dự báo để có phản ứng chính sách phù hợp, kịp thời; tăng cường công tác phối hợp và nỗ lực phấn đấu từ những ngày đầu, tháng đầu để đạt kết quả tốt nhất trên từng lĩnh vực, từng mặt công tác.

            Khẩn trương thực hiện các chương trình hành động cụ thể, thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ X vào cuộc sống. Lấy kết quả thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và cải thiện đời sống nhân dân làm thước đo năng lực và hiệu quả hoạt động của các cấp, các ngành.

 

Các tin đã đưa: